Những bài thuốc Bắc gia truyền, món ngon từ thuốc Bắc rất tốt

Bài thuốc bắc chữa chứng phong thấp hiệu quả

Khi thời tiết thay đổi những người bị bệnh phong thấp sẽ rất khó chịu và đau nhức xương khớp, ăn ngủ kém… Trong Đông Y có một số bài thuốc Bắc điều trị chứng bệnh phong thấp như sau.

Bài thuốc bắc chữa chứng phong thấp hiệu quả

Bài thuốc bắc chữa chứng phong thấp hiệu quả

Chứng bệnh phong thấp mang lại nhiều khó chịu cho người bệnh, nhất là khi thời tiết thay đổi, vào mùa mưa bão, người bệnh đau nhức gân, xương, mình mẩy chân tay rã rời, tê bại, dẫn đế ăn ngủ kém sinh suy nhược.

Nguyên tắc chữa trị phong thấp như thế nào?

Theo Y học hiện đại, nguyên nhân sinh bệnh là do các ổ vi khuẩn loại liên cầu hoại huyết nhóm A cư trú ở tai, mũi, họng gây nên dị ứng nội sinh. Còn theo quan điểm của Y học cổ truyền cho đây là chứng phong thấp nên nguyên tắc chữa trị cần phải khu phong hòa huyết, thông huyết – tán hàn, trừ thấp, giảm đau, thanh nhiệt, tiêu viêm, an thần; đồng thời bổ can, thận, bồi dưỡng khí lực để tăng cường sức chống đỡ bệnh tật cho cơ thể.

Căn cứ vào cơ sở lý luận trên, bài thuốc sau đây đã đạt được yêu cầu ấy bao gồm các vị: sinh địa 20g, hà thủ ô 20g, cỏ xước 12g, cốt toái bổ 12g, vòi voi 10g, cốt khí 10g, phòng đẳng sâm 20g, huyết đằng 12g, hy thiêm 12g, bồ công anh 12g, thiên niên kiện 10g, dây đau xương 10g.

Công năng của từng vị có trong bài thuốc như thế nào?

Vị sinh địa (Rhizoma Rehmanniae): thân rễ phơi khô của cây địa hoàng (Rehmannia glutinosa Libosch “gaertn”), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae), có tác dụng bổ huyết, hòa huyết và thông huyết – dùng chống thiếu máu, suy nhược, ngoài ra còn giúp lợi tiểu, mạnh tim.

Vị vòi voi: họ Tử thảo (Bonaginaceae), dùng chữa tê thấp, thông kinh lạc, hạ nhiệt, chữa mụn nhọt, viêm tấy và làm tan tụ huyết.

Cây vòi voi

Huyết đằng (Caulis sargentodoxae): bộ phận dùng là thân cây huyết đằng phơi khô. Vị đắng, tính bình. Có tác dụng trừ phong, thống kinh lạc, lợi niệu, sát khuẩn; bổ huyết, hành huyết, khỏe gân cốt – chủ trị tê thấp, đau lưng, mình mẩy nhức mỏi.

Dây đau xương (Tinospora Sinensis Men): có tác dụng chữa bệnh tê thấp, đau xương, đau người.

Hà thủ ô (Radix Polygoni multiflori): bộ phận dùng làm thuốc gồm rễ, củ phơi khô của cây hà thủ ô (Polygonum multiflorum Thumb). Vị thuốc bắc này có tác dụng bổ huyết, trị thần kinh suy nhược, làm khỏe gân cốt.

Bồ công anh (Lactuca Indica Lin): họ Cúc (Compositae). Có tính chất sát khuẩn, tiêu viêm, hạ sốt, an thần và bồi bổ.

Hy thiêm (Sieges beckia orientalis L.): họ Cúc (Compositae). Thường dùng làm thuốc chữa trị đau nhức xương, trừ phong thấp, gân cốt nhức lạnh, bán thân bất toại, lưng gối tê dại.

Cây cỏ xước (Achyranthes bidentata Blume: họ Dền (Amaranthaceae). Đây là loại thảo dược trị bệnh được dùng làm thuốc trị viêm khớp, lưng, gối, xương đau nhức, làm tan tụ máu; bổ can, thận.

Cây cỏ xước

Thiên niên kiện (Rhizoma Homalomenae): bộ phận dùng làm thuốc gồm thân, rễ phơi khô của cây thiên niên kiện (Homalomenae aff sagittaefolia Jungh), họ Ráy (Araceae). Dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức – Thường dùng cho người cao tuổi hay đau xương khớp, mình mẩy. Thiên niên kiện vừa là vị thuốc bổ lại còn giúp kích thích tiêu hóa.

Cốt toái bổ (Rhizoma Drynariae fortunei): bộ phận dùng làm thuốc gồm thân rễ cây cốt toái bổ (Drynaria fortuei J-sm), tính khô, ôn bình, tác dụng chữa đau xương, tán tụ máu, sát khuẩn, giảm đau. Dược sĩ Đặng Dương – giảng viên Cao đẳng Dược tại Hà Nội cho biết, đây là vị thuốc hòa hoãn và bổ thận, bồi dưỡng sinh khí.

Cốt khí (Radix Polygoni Cuspidati): bộ phận dùng là rễ phơi khô của cây cốt khí (Polygonumreynontria Makino); thuộc họ Rau răm (Polygonaceae). Tác dụng chữa tê thấp, giảm đau do té ngã, bị thương và lợi tiểu.

Đảng sâm (Radix codonopsis): vị thuốc là rễ phơi khô của nhiều loại codonopsis. Họ Hoa chuông (Campanulaccae). Người ta coi đảng sâm có thể thay thế nhân sâm – thuốc bồi bổ cơ thể, tăng lực, chống thiếu máu, tiêu đàm; bổ tỳ, vị, lợi niệu.

Như vậy sự kết hợp của mười hai vị thuốc trên thật hoàn hảo, đạt được lý luận của nguyên tắc chữa trị bệnh phong thấp, luôn hỗ trợ và tăng cường tác dụng trị liệu với nhau.

Bác sĩ YHCT Ngô Thị Minh Huệ, giảng viên văn bằng 2 Cao đẳng Dược Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết, Phương thuốc trên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện và tình trạng bệnh chứng của từng người mà áp dụng. Thang này có thể dùng dưới hai hình thức như ngâm rượu hoặc sắc để uống.

Nếu ngâm rượu: cứ 1 thang thuốc trên cần ngâm với 1 lít nước, tức 1.000ml rượu trắng 400, để trong 3 ngày lại thêm 500g đường hòa tan vào 500ml nước đun sôi để nguội, đổ chung vào với rượu đã ngâm thang thuốc trên. Mỗi ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần từ 10 – 20ml trước lúc đi ngủ, uống liên tục trong 1 – 2 tháng.

Dùng thuốc sắc: mỗi thang trên cho vào 500ml nước đun nhỏ lửa, đậy kín ấm đến khi cạn còn khoảng 150 – 200ml thì ngừng sắc. Gạn nước thuốc ra chia đôi, uống mỗi lần 1/2 số nước đó, uống nóng. Dùng liên tục từ 20 – 25 ngày.

Nguồn: Thuocbac.edu.vn tổng hợp từ Sức khỏe đời sống.

Exit mobile version